PHẦN I
ĐAU THẮT LƯNG
Chương I
ĐẠI CƯƠNG
I. ĐỊNH NGHĨA
Đau thắt lưng (L) là hiện tượng đau cấp tính hoặc mạn tính ở vùng từ ngang đốt sống L1, đến ngang đĩa đệm L5-S1(bao gồm cột sống thắt lưng và các tổ chức xung quanh) do nhiều nguyên nhân (bệnh lý đĩa đệm, cột sống, thần kinh, nội tạng…).
II.TÍNH PHỔ BIẾN CỦA ĐAU THẮT LƯNG
Đau thắt lưng rất hay gặp trong đời sống hằng ngày và trên lâm sàng. Ở Mỹ, theo A.Toufexia thường có 2triệu người phải nghỉ việc do đau thắt lưng. Ở nước ta trong điều tra tình hình bệnh tật, đau thắt lưng chiếm 2% trong nhân dân, chiếm 17% những người trên 60 tuổi (Phạm Khuê,1979). Theo Hồ Hữu Lương, Nguyễn Văn Chương, Cao Hữu Hân (1991), đau thắt lưng hông chiếm 27,77% tổng số bệnh nhân khoa nội thần kinh Viện Quân Y 103.
III. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU CHỨC NĂNG VÙNG ĐAU THẮT LƯNG
1.Đặc điểm chung
– Là vùng gánh chịu sức nặng cơ thể, cấu tạo các cơ, dây chằng, đốt sống và đĩa đệm có kích thước lớn hơn các vùng khác, nhất là L4 và L5.
– Là đoạn cột sống có tầm hoạt động rất lớn đối với động tác gấp, duỗi, nghiêng, xoay có biên độ rộng. Đó là do đĩa đệm ở đây có cấu tạo các vòng sợi, mâm sụn, nhân nhầy có tính chất chịu áp lực đàn hồi và di chuyển khiến cho đốt sống có khả năng thực hiện được các hoạt động của cơ thể.
– Các đốt sống thắt lưng có liên quan trực tiếp với tủy sống, đuôi ngựa, các dây thần kinh. Ở phần sâu của vùng thắt lưng là các chuỗi hạch thần kinh giao cảm, động và tĩnh mạch chủ bụng và tiểu khung cũng có những quan hệ về thần kinh với vùng thắt lưng.
2. Cấu trúc của cột sống
Cột sống là trụ cột của toàn thân, bao gồm 33 đốt sống. Cột sống được chia thành từng đoạn dựa trên cơ sở cấu tạo giải phẫu và chức năng sinh lý:
– Đoạn cổ: gồm 7 đốt cong ra trước, di động nhiều nên dễ bị tổn thương (thường gặp ở đoạn chuyển tiếp C5 – C6), các mỏm khớp hơi nghiêng dễ gây sai khớp đốt sống.
– Đoạn lưng: gồm 12 đốt cong ra sau, đoạn D2 – D10 và đoạn thắt lưng đi xuống được mọi hướng nên dễ di lệch do chấn thương.
– Đoạn thắt lưng: gồm 5 đốt, cong ra trước, di động nhiều.
– Đoạn cùng: gồm 5 đốt, cong ra sau.
– Đoạn cụt: 4 đốt.
Toàn bộ cột sống tạo thành hình chữ S, từng đoạn cột sống lại có những đơn vị, chức năng gọi là đoạn vận động.
3. Cấu trúc cột sống thắt lưng
Cột sống thắt lưng (CSTL) có cấu trúc chung của cột sống nhưng lại có những đặc điểm riêng:
– Thân đốt sống: chiều ngang rộng hơn chiều trước – sau. Ba đốt sống thắt lưng cuối có chiều cao ở phía trước thấp hơn phía sau nên khi nhìn từ phía bên giống như một cái nệm.
– Chân cung to, khuyết trên của chân cung: nông, khuyết dưới: sâu.
– Mỏm ngang dài và mảnh.
– Mỏm gai rộng, thô, dày ở đỉnh.
– Mặt khớp của mỏm khớp nhình vào trong và về sau, mặt khớp dới có tư thế trái ngược với mỏm khớp trên.
Những đặt điểm cấu trúc này giúp cho cột sống thắt lưng chịu được áp lực trọng tải lớn, thường xuyên theo dọc trục cơ thể, nhưng các quá trình bệnh lý liên quan đến yếu tố cơ học thường hay xảy ra ở đây do chức năng vận động bản lề, nhất là ở các đốt sống cuối (L4, L5)
4. Đĩa đệm cột sống thắt lưng
5. Liên quan giữa đĩa đệm với rễ thần kinh trong ống sống
6. Lỗ gian đốt sống
Lỗ gian đốt sống (trou de conjugaison) được giới hạn ở phía trước bởi một phần của hai thân đốt sống kế cận và đĩa đệm, ở phía trên và dưới là các cuống cúng sau của hai đốt sống kế tiếp, ở phía sau là các diện khớp đốt sống, do đó những thay đổi tư thế của diện khớp và các khớp đốt sống có thể làm hẹp lũ gian đốt sống từ phía sau. Nói chung các lỗ gian đốt sống đều nằm ngang mức với đĩa đệm.
– Trong lỗ gian đốt sống có dây thần kinh sống chạy qua. Bình thường đường kính của lỗ gian đốt sống to gấp 5-6 lần đường kính của đoạn dây thần kinh xuyên qua lỗ. Các tư thế ưỡn và nghiêng lưng về bên làm giảm đường kính lỗ. Khi đĩa đệm bị lồi hoặc thoát vị về phía bên sẽ làm hẹp lỗ gian đốt sống, chèn ép dây thần kinh sống gây đau. Riêng lỗ gian đốt sống thắt lưng – cùng là đặt biệt nhỏ do tư thế của khe khớp đốt sống ở đây lại nằm ở mặt phẳng đứng ngang chứ không ở mặt phẳng đứng dọc như ở đoạn L1 – L4. Do đó những biến đổi ở diện khớp và tư thế của khớp đốt sống dễ gây hẹp lỗ gian đốt sống.
7. khớp đốt sống
– khớp đốt sống là khớp thực thụ, có diện khớp là sụn bao hoạt dịch và bao khớp. Các khớp đốt sống cũng được bao bọc bỡi bao khớp cấu tạo bằng những sợi đàn hồi như các khớp tứ chi.
Bao khớp và đĩa đệm đều thuộc cùng một đơn vị chức năng thống nhất, có liên quan chặt chẽ với nhau. Do vị trí của khớp đốt sống ở hướng đứng thẳng dọc, các diện khớp luôn đối diện nhau nên cột sống thắt lưng có khả năng di chuyển động thoe chiều trước – sau trong chừng mực nhất định. Ở tư thế ưỡn và gù lưng, các diện khớp cũng chuyển động theo hướng dọc thân.
– Sự tăng áp lực cũng như sự giảm áp lực cơ học lên đĩa đệm sẽ làm tăng hoặc giảm trọng lực cho bao khớp và làm tăng hoặc giảm chiều cao của khoang gian đốt sống. Đĩa đệm và khớp đốt sống do vậy mà đều có khả năng chống chọi theo phương cách đàn hồi với cả động lực mạnh và nếu chấn thương mạnh sẽ làm gẫy đốt sống trước khi đĩa đệm và khớp đốt sống bị thương tổn.
– Khi đĩa đệm bị thoái hóa hoặc thoát vị, chiều cao khoang đốt sẽ giảm, gây trùng lỏng các khớp đốt sống, dẫn tới sai lệch vị trí của khớp, thúc đẩy nhanh quá trình thoái hóa khớp đốt sống và xuất hiện đau cột sống.
– Ngược lại, nếu chiều cao khoảng gian đốt (đĩa đệm) tăng quá mức sẽ gây tăng chuyển dịch thể vào khoang trong đĩa đệm dẫn tới giãn quá mức bao khớp, cũng gây đau.
8. Ống sống thắt lưng
Ống sống thắt lưng được giới hạn ở phía trước bởi thân đốt sống và các đĩa đệm, phía sau bởi dây chằng vàng và các cung đốt sóng, bên cạnh là các cuống sống, vòng cung và lỗ gian đốt sống. Trong ống sống thắt lưng có bao màng cứng, rễ thần kinh và tổ chức quanh màng cứng (tĩnh mạch, động mạch, tổ chức mỡ…). Vì vậy các rễ thần kinh không bị chèn ép bởi các thành xương của ống sống, kể cả khi vận động cột sống thắt lưng tới biên độ tối đa.
Bình thường lỗ ống sống ở đoạn L1 – L2, có hình 3 cạnh và khá cao (14-22mm), ở đoạn L3 – L5 hình năm cạnh, chỉ cao 13-20mm. Trên phim chụp X quang tiêu chuẩn từ L3 đến L5 đường kính ngang ống sống tăng dần từ 26,3 đến 33,3 và đường kính trước – sau giảm từ 18,2 đến 17,2mm (Hồ Hữu Lương, Dư Đình Tiến, 1986).
Trên tiêu bản cột sống thắt lưng được đo ở 15 trường hợp tử vong hông do bệnh lý cột sống, đường kính ngang ống sống giảm dần từ L1 – L5 (21,27 – 20,46mm) và đường kính trước – sau giảm từ 16,04 – 15,19mm. Sự thay đổi độ rộng của ống sống thắt lưng có ý nghĩa lớn trong cơ chế phát sinh chứng đau thắt lưng có ý nghĩa lớn trong cơ chế phát sinh chứng đau thắt lưng. Đặc biệt khoảng cách giữa hai hố bên (latera recesses) của ống sống càng giảm thì triệu chứng chèn ép rễ thần kinh càng tăng.
9. Các dây chằng cột sống thắt lưng
a) Dây chằng dọc trước
Dây chằng dọc trước (anterior longitudinal ligament) là một dải rộng phủ mặt trước thân đốt sống và phần bụng của vòng sợi đĩa đệm từ đốt sống cổ thứ nhất đến xương cùng. Những sợi trong cùng hòa lẫn với vòng sợi trải từ thân đốt này qua đĩa đệm đến thân đốt sống kế cận. Các sợi này cố định đĩa đệm vào bờ trước thân đốt sống, còn các sợi mỏng trải trên các thân đốt và cố định các thân đốt với nhau.
b) Dây chằng dọc sau
Dây chằng dọc sau (posterior longitudinal ligament) nằm ở mặt sau của thân đốt sống từ đốt sống cổ thứ hai đến xương cùng. Dây này dính chặt vào sợi và dính chặt vào bờ thân xương, ở phía trên dây chằng dọc sau rộng hơn ở phía dưới. Khi tới thân đốt sống thắt lưng dây chằng này chỉ còn là một dải nhỏ, không phủ kín hoàn toàn giới hạn sau của đĩa đệm. Như vậy phần sau bên của đĩa đệm được tự do nên thoát vị đĩa đệm thường xảy ra nhiều nhất ở đó và tỷ lệ thoát vị đĩa đệm sau – bên nhiều hơn là thoát vị đĩa đệm giữa – sau. Phần bên của dây chằng dọc sau bám vào màng xương của các cuống cung thân đốt, khi các sợi này bị căng ra do đĩa đệm bị lồi có thể xuất hiện triệu chứng đau, nhưng chính là đau từ màng xương.
c) Dây chằng bao khớp
Dây chằng bao khớp (capsular ligament) bao quanh giữa khớp trên và khớp dưới của hai đốt sống kế cận. Trường hợp động quá tầm, những dây này sẽ giãn ra để cho các diện khớp trượt lên nhau và giữa cho khớp được vững.
d) Dây chằng vàng
Dây chằng vàng (ligamentum flavun) phủ phần sau của ống sống, bám từ cung đốt này đến cung đốt khác và tọa nên một bức vách thằng ở phía sau ống để che chở cho tủy sống và các rễ thần kinh. Dây chằng vàng có tính đàn hồi. Khi cột sống cử động, nó góp phần kéo cột sống trở về nguyên vị trí. Sự phì đại của dây chằng vàng cũng là một nguyên nhân gây đau rễ thắt lưng cùng nên dễ nhầm với thoát vị đĩa đệm.
e) Dây chằng trên gai và dây chằng liên gai
Dây chằng trên gai (supraspinous ligament) và dây chằng liên gai (interpinous ligament) nối với mỏm gai với nhau.
Dây chằng trên gai là dây mỏng chạy qua đỉnh các gai sống, góp phần gia cố phần sau của đoạn vận động cột sống, góp phần gia cố phần sau của đoạn vận động cột sống khi đứng thẳng nghiêm và khi gấp cột sống tối đa.
Những đặc điểm của hệ thống dây chằng cột sống thắt lưng kể trên có liên quan trực tiếp đến bệnh lý thoát vị đĩa đệm.
Dùng thử miễn phí tuần đầu thuốc đau thắt lưng – thoái hóa cột sống thắt lưng TẠI ĐÂY :
DÙNG THỬ MIỄN PHÍ

Tin Tức Liên Quan